Những thập kỷ gần đây đã chứng kiến bước phát triển ngoạn mục của khoa học và công nghệ đánh dấu bởi vô số những phát minh kỳ diệu từ các lãnh vực lý thuyết trừu tượng nhất đến các ứng dụng rộng rãi nhất trong thực tế sản xuất và đời sống mà những phát minh đó đã mang lại.

Cũng đồng thời ngày càng dồn dập thông tin trong nước và trên thế giới về những khả năng kỳ lạ của con người, những hiện tượng siêu phàm kỳ bí trong đời sống cộng đồng, mà chưa cách nào lý giải được thấu đáo trong khuôn khổ những kiến thức hiện có của các ngành khoa học truyền thống.

Tiếp cận những vấn đề này một cách khách quan, tôn trọng sự thật với thái độ thực sự cầu thị, khiêm tốn học hỏi để khám phá, nhằm mục đích tối thượng phục vụ lợi ích cộng đồng là điều tâm đắc của nhiều nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và khoa học phi truyền thống.

Để có được cách tiếp cận lý thuyết về các khả năng đặc biệt, các hiện tượng siêu nhiên đòi hỏi phải đưa vào các khái niệm, các tiên đề hoàn toàn mới, có thể rất xa lạ với những điều đã quen thuộc từ trước, phải vận dụng kết hợp nhiều ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đặc biệt là triết học, cận tâm lý học và cả thần học. Cũng dễ hiểu rằng, trong cuộc trường chinh cam go này, vật lý học đương đại với những thành tựu vĩ đại trong thế kỷ qua là Thuyết lượng tử và Thuyết tương đối và những thành tựu có tính cách mạng đang chờ đón trong những thập kỷ tới là Lý thuyết Đại thống nhất (Grand Unification Theory) – sẽ có những tác dụng định hướng.

Có thể ví những thành quả từ Thuyết lượng tử và Thuyết tương đối mang lại cho cuộc sống ngày nay như những đợt sóng thần ngày càng dâng cao với những ảnh hưởng to lớn không thể lường hết đối với sự tồn vinh của nhân loại.

Nghiên cứu thế giới vi mô – Thế giới hạ nguyên tử cùng với các hình thái năng lượng và quy luật tương tác trong đó để tạo ra thế giới quanh ta ra sao là những vấn đề cốt lõi của Vật lý học đương đại. Cho đến nay đã khẳng định được sự tồn tại bốn dạng tương tác cơ bản – mạnh, yếu, điện từ và hấp dẫn, tạo nên bức tranh vũ trụ như ta cảm nhận.

Xây dụng được mô hình lý thuyết thống nhất các dạng tương tác trên cùng một nền tảng sẽ cho ta hiểu thấu đáo hơn về bản chất các hiện tượng đã có và đồng thời tiên đoán để có những khám phá mới.

Các mô hình thống nhất xây dựng trên nền tảng Lý thuyết trường lượng tử và Lý thuyết tương đối tổng quát đã dẫn đến những cách nhìn nhận sâu sắc về bản chất của không gian – thời gian, bản chất các dạng tương tác và các hình thái năng lượng. Đặc biệt đã xuất hiện những ý tưởng về sự tồn tại các dạng siêu tương tác tương ứng với siêu năng lượng liên quan đến các hiện tượng siêu nhiên mà các giác quan bình thường của con người cũng như khoa học và kỹ thuật hiện nay chưa đủ trình độ để phát hiện.

Các kết quả nghiên cứu lý thuyết đã chứng tỏ rằng, ngoài 4 chiều không gian – thời gian như chúng ra đang sống nhất thiết phải có thêm các chiều ẩn khác nữa được gọi là các chiều nội tại hoặc chiều phụ trội (extradimensions). Nghiên cứu về bản chất các chiều phụ trội là một lãnh vực có tính thời sự của vật lý học đương đại. Có giả thiết cho rằng, các chiều phụ trội liên quan đến thế giới tâm linh, các quy luật tác dụng trong đó mang màu sắc các phạm trù tâm linh và các tương tác tâm linh được chuyển tải qua các chiều phụ trội.

Đối chiếu với các luận giải Kinh Phật về Nội hư không – Ngoại hư không ta thấy rằng, các chiều phụ trội tương ứng với phạm trù Nội hư không – thế giới vô vi (Vô sắc giới), Không – thời gian 4 chiều như chúng ta đang sống tương ứng với Ngoại hư không – Thế giới hữu vi, thế giới thông thường của vạn vật.

Ở đây ta có thể liên tưởng đến một dạng siêu năng lượng bắt nguồn từ lòng từ bi bác ái được nói đến nhiều trong Kinh Phật, Kinh Thánh, cũng như các vị thầy tâm linh thường nhắc nhở. Môi trường tình thương dẫn đến một dạng tương tác tâm linh tạo ra “Năng lượng tình thương” có thần lực vô biên giúp chiến thắng mọi bệnh tật và vượt qua mọi chướng ngại.

Trong Kinh Dược sư có viết rằng Đức Dược sư khi còn tu hành Đạo Bồ đề, xuất phát từ lòng thương chúng sinh, có phát ra 12 Đại nguyện mà trước tiên là “Nguyện đời sau khi chứng đắc Phật quả Vô thượng Bồ đề thân như ngọc lưu ly trong ngoài sáng trong rực rỡ, soi suốt vô lượng vô biên thế giới, an trú trên tầng lưới dệt bằng tia sáng. Tất cả chúng sinh trong cõi vô minh nhờ ánh sáng đó mà tâm trí được mở mang, thân hình được khỏe mạnh, làm việc gì cũng được vẹn toàn như ý”.

Một mô hình lý thuyết Đại thống nhất được đánh giá có nhiều triển vọng là lý thuyết siêu dây (Superstring Theory) và phát triển lên một bậc cao hơn là Lý thuyết M (M – Theory).

Lý thuyết siêu dây xem các hạt cơ bản về hình học như các sợi dây vô cùng bé, các trạng thái của các hạt như các cung bậc kích thích rung động của dây. Như vậy, toàn bộ bức tranh diễn biến các hiện tượng xung quanh ta là một bản giao hưởng hòa tấu vũ trụ huyền diệu dưới sự chỉ huy của một nhạc trưởng vũ trụ siêu nhiên và theo thuật ngữ trong Kinh Phật, Kinh Thánh, đó là “Đấng trí tuệ vĩ đại từ bờ kia” – Đức Phật Tổ Như Lai, Đức Chúa Trời, Đấng tạo hóa tối cao”.

Điều đặc biệt là trong các cấu trúc cơ sở của Lý thuyết siêu dây, ngoài các hạt cơ bản nhất thiết phải có các trường “Vong” (Ghost). Các trường vong không xuất hiện trong thực tế, nhưng lại có tác dụng về cấu trúc, mang màu sắc “thi vi tạo tác”, đặc biệt là tính chất các chiều phụ trội và từ đó các diễn biến trong Ngoại hư không bắt nguồn từ Nội hư không 6 chiều phụ trội.

Lý thuyết siêu dây đã được phát triển cao hơn thành Lý thuyết M. Trên cơ sở Lý thuyết M có nhiều hy vọng tiếp cận giải thích được những hiện tượng tâm linh huyền bí. Cũng vì vậy, những người khai sáng lý thuyết này đặt tên M do có các nội hàm thần bí (Magic), huyền bí (Mystery) hoặc hy vọng từ đó suy ra tất cả mọi điều (Mother), TOE – Theory Of Everything. Với Lý thuyết M thì có 7 chiều phụ trội.

Một hệ quả trực tiếp của Lý thuyết M là sự tồn tại Đa vũ trụ song song. Chúng ta đang ở trong một thuộc Đa vũ trụ đó. Có khả năng tồn tại 10500 vũ trụ khác nhau, mỗi vũ trụ vận hành theo những quy luật riêng của mình, tất cả các vũ trụ này được tạo nên từ sự thăng giáng lượng tử của chân không và là các phiên bản của nhau. Bản thân mỗi chúng ta cũng đều có phiên bản ở tất cả các vũ trụ đó. Các phiên bản này lại có những liên hệ đan chằng lượng tử với nhau. Trong mô hình vũ trụ này tồn tại đồng thời vô số con người trong cùng một con người và tại mỗi vị trí, mỗi thời điểm tất cả thông tin trong vũ trụ ở mọi thời đại, mọi nơi chốn đều hiện hữu.

Có nhận định cho rằng, với Lý thuyết M và quan niệm về “Ý thức lượng tử” có thể tiếp cận luận giải về những phạm trù huyền bí như tiên tri, kinh nghiệm cận tử, xuất hồn, đầu thai tái kiếp, v.v…

Gần đây đã có những công trình nghiên cứu công bố ở các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín với các kết quả chứng tỏ rằng, các chiều không gian phụ trội là nơi khởi nguồn sáng tạo ra các tương tác biến hóa trong không gian ba chiều nơi chúng ta đang sống.

Những điều trên đây cũng hoàn toàn phù hợp với Luận giải Kinh Phật về Nội hư không và Ngoại hư không, theo đó Uẩn tưởng (Tàng thức, A lại da thức, Như Lai tạng, Phật tánh, …) là chủ thể thi vi tạo tác, phát sóng A lại da mang theo các thông tin tâm linh chuyển tải theo các chiều phụ trội, phi không gian – thời gian, phi tốc độ.

Một lãnh vực nghiên cứu có tính thời sự cao đang trên đà phát triển sôi động là Máy tính lượng tử, Viễn chuyển lượng tử, Thông tin lượng tử và một hướng nghiên cứu nảy sinh đó là Viễn chuyển tâm linh. Bản chất của Viễn chuyển tâm linh là áp dụng các nguyên lý của Máy tính lượng tử bằng cách sử dụng một dạng năg lượng tâm linh huyền bí để dung thông truyền đạt ý nghĩ, điêu khiển các vật thể di chuyển hoặc thay đổi trạng thái của các đối tượng.

Đã có ý tưởng đề xuất cho rằng, trong mỗi con người đều có một cỗ siêu máy tính lượng tử. Từ các nghiên cứu về cấu trúc của tế bào sống đã có những lập luận khẳng định rằng, các vi mạch thần kinh có các thuộc tính lượng tử thực hiện các chức năng như những cấu phần của máy tính lượng tử để lưu trữ và chuyển tải các thông tin được mã hóa dưới dạng các trạng thái lượng tử.

Tuy chưa ý thức thật đầy đủ nhưng người ta cũng đã hình dung được rằng, các quá trình cơ sở nhất trong thiên nhiên thực chất là xử lý thông tin lượng tử luôn diễn ra quanh ta khắp mọi nơi và lượng thông tin xử lý trong một vi lượng cực bé vật chất và thời gian cũng lớn hơn rất nhiều lần lượng thông tin mà toàn bộ công nghệ thông tin cổ điển đã tiến hành.

Có thể nói rằng các nguyên lý của Thuyết lượng tử như một chuỗi kim cương xuyên suốt mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô, từ thế giới hữu hình đến vi mô, từ tự nhiên đến siêu nhiên.

Nhân đây ta cũng cần cân nhắc đến giả thuyết của chủ nghĩa Duy tự nhiên (Naturalism) cho rằng, thế giới tự nhiên là một hệ khép kín với hàm ý rằng, không một yếu tố nào từ ngoài có thể gây ảnh hưởng đến thế giới đó. Tuy nhiên, điều này trái với Định lý bất toàn Godel nổi tiếng (1931), theo đó một hệ thống logic khép kín không bao giờ là đầy đủ về lập luận logic, không bao giờ là phi mâu thuẫn. Muốn lý giải được mọi thứ phải có thêm yếu tố ngoại lai – chấp nhận niềm tin. Mọi lập luận rốt cuộc đều quay lại với niềm tin vào điều gì đó bất khả tư nghì. Định lý bất toàn Godel nói lên rằng, khoa học không bao giờ lấp kín những lỗ trống của chính nó. Điều này hoàn toàn tương thích với quan điểm của Einstein cho rằng, “Trí tuệ con người không đủ khả năng hiểu biết hết vũ trụ vạn vật”.

Ở đây về mặt lý luận còn rất nhiều vấn đề phải giải quyết, rất nhiều câu hỏi phải được lý giải thích đáng. Đây là cuộc viễn chinh khoa học gian nan nhưng đầy đứa hẹn, đòi hỏi sự đóng góp rất nhiều công sức và trí tuệ của các nhà khoa học, các nhà hoạt dộng xã hội và các nhà ngoại cảm.

Trong tinh thần đó, xin kính chúc các quý vị dồi dào sức khỏe, vạn sự bình an, thành công nối tiếp thành công, niềm vui nối tiếp niềm vui. Hy vọng chúng ta còn nhiều cơ duyên tái ngộ và mỗi lần gặp lại trong nhạc điệu “Thì thầm mùa xuân” sẽ trao nhau dòng tâm sự như lời bài ca nhạc Trịnh”

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui

Chọn những bông hoa những nụ cười

Tôi nhặt gió trời mời giữ lấy

Để mắt ai cười tựa lá bay

Tài liệu tham khảo

  1. Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật
  2. Kinh Đại Bát Niết Bàn
  3. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
  4. Kinh Thủ Lăng Nghiêm
  5. Đào Vọng Đức, Các nguyên lý cơ bản của Lý thuyết siêu dây lượng tử, NXB Khoa học và Công nghệ, Hà Nội, 2007
  6. Đào Vọng Đức, Phù Chí Hòa,Từ Lý thuyết lượng tử đến máy tính lượng tử, NXB khoa học và kỹ thuật 2012
  7. Đào Vọng Đức, Phù Chí Hòa, Lý thuyết tương đối rộng với không – thời gian đa chiều, NXB khoa học và kỹ thuật 2015
  8. D.V.Duc, N.M.Giao, Mass Creation from Extradimensions, Journal of Modern Physics (USA), 2014, vol.5, p.477
  9. D.V.Duc et al., Time – like Extradimensions as the Origin of Tachyons, Journal of Physical Science and Application (USA) 2014, 4, p.60
  10. D.V.Duc et al., Mass Spectrum of Spinor fields in extradimensions, International journal of theoretical physics, 2015, vol.54, p.1071
  11. D.V.Duc, N.M.Giao, A mechanism for charge creation from extradimensions, International journal of theoretical physics, 2016, vol.55, p.959
  12. D.V.Duc et al., Charge – Mas sum Rules for unifiel spinor fields in extradimensions and the prediction for the existence of tachyon quarks and tachyon leptons, Modern physics letters, 2019, vol.33, 195013

Ngày 15 tháng 12 năm 2021

GS.VS. TSKH. ĐÀO VỌNG ĐỨC